Th 04
Mặc dù sữa nổi tiếng vì có nhiều canxi nhưng có nhiều loại thực phẩm khác có thể giúp mọi người đáp ứng được nhu cầu bổ sung canxi hằng ngày. 1.NHU CẦU CANXI HẰNG NGÀY Canxi là một chất dinh dưỡng quan trọng, cần thiết cho sức khỏe tổng thể, cũng như một số chức năng cụ thể cho xương và răng, quá trình đông máu, chức năng cơ, thần kinh và tim. Sữa là một trong những nguồn canxi hàng đầu nhưng cũng có những nguồn thực vật tốt. Điều quan trọng là nên ăn một chế độ ăn đa dạng để đảm bảo nhận được tất cả những chất dinh dưỡng cần thiết cơ thể cần. NHU CẦU CANXI (MG/ NGÀY) THEO KHUYẾN NGHỊ CỦA BỘ Y TẾ: Nhu cầu canxi hằng ngày tùy thuộc theo độ tuổi và giới tính. Đối với trẻ em, nhu cầu canxi dao động từ 300mg/ ngày cho trẻ dưới 6 tháng tuổi và 700mg/ ngày cho trẻ từ 7-9 tuổi. Thanh thiếu niên nam trong độ tuổi từ 10-12 cần 1000mg canxi mỗi ngày. Đối với nam giới trưởng thành, nhu cầu canxi là 700mg/ ngày cho độ tuổi từ 19-49 tuổi và tăng lên 1.000mg/ ngày cho độ tuổi từ 50-59. Thanh thiếu niên từ 10-12 tuổi (chưa có kinh nguyệt) cũng cần 1000mg canxi mỗi ngày. Nhu cầu canxi của nữ giới trưởng thành tương tự nam giới, với mức 700mg/ ngày cho độ tuổi từ 19-49 và 1000mg/ ngày cho độ tuổi từ 50-60. Phụ nữ mang thai trong 3 tháng đầu cần 1000mg mỗi ngày, bà mẹ cho con bú cần lượng canxi tương tự trong suốt thời gian cho bú. 2.THAM KHẢO NHỮNG THỰC PHẨM GIÀU CANXI Sữa chua 20ml sữa chua không béo chứa 488mg canxi (38% DV). Giống như sữa, sữa chua nguyên chất là nguồn cung cấp canxi tuyệt vời nhưng nó cung cấp nhiều canxi hơn cho một khẩu phần như sữa. Có thể làm sữa chua nguyên chất thêm hương vị bằng cách bổ sung trái cây. Đối với các lựa chọn sữa chua lành mạnh hơn, hãy lựa chọn loại ít hoặc không thêm đường và chất tạo ngọt. Sữa hạnh nhân 1 cốc sữa hạnh nhân không đường chứa 499 mg canxi (35% DV). Sữa hạnh nhân là sản phẩm kết hợp giữa hạnh nhân xay và nước lọc. Loại sữa làm từ hạt này thường được bổ sung khoáng chất canxi cacbonat. Sữa hạnh nhân là một lựa chọn nếu bạn muốn thay thế sữa từ thực vật và đang tìm kiếm một loại sữa thay thế sữa đậu nành. Tuy nhiên, không giống như sữa bò và sữa đậu nành, sữa hạnh nhân không phải là nguồn cung cấp protein đáng kể, chỉ có 1g cho mỗi cốc. Cũng như các loại sữa từ thực vật khác, hãy kiểm tra nhãn để đảm bảo sữa hạnh nhân để đảm bảo bổ sung canxi. Đậu phụ cứng giàu canxi 1 cốc đậu phụ cứng chứa 506mg canxi (39% DV). Đậu phụ cũng là một loại thực phẩm có nguồn gốc thực vật, ít chất béo, không chứa cholesterol, giàu protein hoàn chỉnh, khiến nó trở thành lựa chọn tuyệt vời cho người ăn chay và thuần chay. Hạnh nhân nguyên hạt 1 cốc hạnh nhân nguyên hạt có chứa 385mg canxi (30% DV). Hạnh nhân nguyên hạt là một nguồn canxi dồi dào và chứa nhiều chất béo lành mạnh, chất xơ, magie, vitamin E. Một nắm hạnh nhân là một món ăn nhẹ bổ dưỡng, với khẩu phần khoảng 28-30g cung cấp khoảng 13g chất béo đơn và đa không bão hòa lành mạnh. Những chất béo không bão hòa này có thể đóng vai trò trong việc giảm mức cholesterol LDL toàn phần và giảm nguy cơ mắc bệnh tim. Hạnh nhân là một thành phần tuyệt vời để thêm vào salad, sinh tố. Nước cam được bổ sung canxi 1 cốc nước cam bổ sung chứa 347mg canxi (27% DV). Nếu bạn không thích sữa thực vật thì uống nước cam tăng cường canxi có thể là một lựa chọn khác để đáp ứng nhu cầu canxi. Sữa yến mạch 1 cốc sữa yến mạch có 350mg canxi (27% DV). Giống như sữa hạnh nhân, sữa yến mạch có canxi cacbonat được thêm vào trong quá trình tăng cường. Mặc dù bạn có thể tự làm sữa yến mạch nhưng các sản phẩm được sản xuất theo hướng thương mại sẽ cung cấp nhiều chất dinh dưỡng hơn do được tăng canxi. Lưu ý, sữa yến mạch là một loại đồ uống có hàm lượng protein thấp (3g mỗi cốc) không có hàm lượng tương đương với sữa bò và đồ uống đậu nành tăng cường. Phô mai mozzarella 42,5g phô mai có chứa 333mg canxi (26% DV). Một khẩu phần 42,5g phô mai cung cấp nhiều canxi hơn một ly sữa bò một chút. Một số loại phô mai tươi cũng có thể chứa vi khuẩn có lợi, còn gọi là lợi khuẩn, có thể giúp hỗ trợ tiêu hóa và hệ miễn dịch chống lại tình trạng viêm trong cơ thể. Phô mai cũng rất đa năng. Cá mòi đóng hộp 106g cá mòi đóng hộp có dầu và xương chứa 351mg canxi (27% DV). Cá mòi rất giàu acid béo omega 3, rất quan trọng với sức khỏe não bộ, sức khỏe tim mạch, sức khỏe mắt. Chúng cũng là một trong số ít nguồn thực phẩm cung cấp vitamin D và cũng là nguồn cung cấp sắt, vitamin B12, vitamin E, magie, kẽm. Với lượng xương nhỏ được chế biến mềm hoàn toàn trong quá trình đóng hộp cung cấp thêm canxi. Cá hồi đóng hộp 141,75g cá hồi đóng hộp và xương chứa 312mg canxi (24% DV). Giống như cá mòi đóng hộp, người ăn sẽ nhận canxi và vitamin D từ cá hồi đóng hộp, một phần là nhờ xương đã được mềm hoàn toàn và có thể ăn được. Cá hồi là một loại cá giàu protein khác có chất béo omega 3 tốt cho tim và vitamin B, kali và selen. Sữa đậu nành 1 cốc sữa đậu nành bổ sung chứa 300mg (23% DV). Mặc dù sữa đậu nành tăng cường không chứa nhiều canxi hơn sữa bò (nó chứa lượng canxi tương đương) nhưng đây là loại sữa thay thế từ thực vật duy nhất có giá trị dinh dưỡng tương đương với sữa. Sữa đậu nành thường được bổ sung các chất dinh dưỡng như canxi và vitamin D, là nguồn cung cấp protein tốt (6g mỗi cốc) và ít chất béo bão hòa. Bạn có thể uống một cốc đồ uống từ thực vật này để thay thế sữa bò để có được những lợi ích dinh dưỡng tương tự nhằm đáp ứng nhu cầu hằng ngày.
Th 04
Vitamin là những chất dinh dưỡng cơ thể chỉ cần một lượng rất nhỏ, nhưng nếu thiếu hụt có thể gây ra những vấn đề sức khỏe nguy hiểm… Nhiều người cảm thấy mệt mỏi liên tục, đau nhức xương khớp hoặc trí nhớ kém… nhưng không biết rằng các tình trạng này có thể liên quan đến thiếu hụt vitamin nghiêm trọng. Theo thông tin đăng trên trang TOI, thiếu vitamin có thể diễn ra âm thầm, không có dấu hiệu rõ ràng cho đến khi gây ra những vấn đề sức khỏe hay những triệu chứng mà chúng ta nhận thấy rõ, ví dụ như đau - yếu xương, trí nhớ kém… hoặc dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng về sức khỏe. Dưới đây là tình trạng nghiêm trọng do thiếu hụt vitamin không được bỏ qua: 1.THIẾU VITAMIN B12 VÀ NGUY CƠ TIỀM ẨN ĐỐI VỚI NÃO, DÂY THẦN KINH Vitamin B12 rất quan trọng đối với chức năng thần kinh, sản xuất tế bào hồng cầu và tổng hợp DNA. Sự thiếu hụt có thể không được phát hiện trong một thời gian dài, nhưng lại có thể gây ra vấn đề sức khỏe nghiêm trọng. -Tổn thương dây thần kinh và mất trí nhớ: Nếu không có đủ vitamin B12, có thể làm ảnh hưởng tới các dây thần kinh, xuất hiện cảm giác ngứa ran ở tay chân, các vấn đề về trí nhớ, thậm chí là lú lẫn. -Mệt mỏi và yếu ớt cực độ: Khi thiếu vitamin B12, cơ thể phải gắng sức để sản xuất các tế bào hồng cầu, dẫn đến tình trạng mệt mỏi và chóng mặt dai dẳng. -Rối loạn tâm trạng và trầm cảm: Các nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa mức vitamin B12 thấp với nguy cơ mắc bệnh trầm cảm và lo âu cao. -Các trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến tê liệt: Nếu không được điều trị trong nhiều năm, tổn thương thần kinh có thể trở nên kém phục hồi, ảnh hưởng đến khả năng vận động. Các nguồn cung cấp vitamin B12 tự nhiên bao gồm trứng, các sản phẩm từ sữa, trứng, cá và thịt. Đối với người ăn theo chế độ dựa trên thực vật, có thể cần dùng các chất bổ sung hoặc tăng cường thực phẩm. 2.THIẾU VITAMIN A VÀ NGUY CƠ ĐỐI VỚI THỊ LỰC, KHẢ NĂNG MIỄN DỊCH Vitamin A đóng vai trò quan trọng trong duy trì sức khỏe mắt, chức năng miễn dịch và tái tạo da. Khi thiếu loại vitamin A có thể gây ra những hậu quả: -Quáng gà và mất thị lực vĩnh viễn: Một trong những dấu hiệu sớm của tình trạng thiếu vitamin A là khó nhìn trong điều kiện ánh sáng yếu (quáng gà). Trong những trường hợp nghiêm trọng, có thể dẫn tới mù lòa. -Suy giảm miễn dịch: Vitamin A rất quan trọng với hệ thống miễn dịch, do đó khi thiếu vitamin A có thể dẫn tới các bệnh nhiễm trùng, mắc bệnh hơn. -Các vấn đề về da và chậm lành vết thương: Dấu hiệu phổ biến của tình trạng thiếu vitamin A dẫn tới da khô, có vảy và khả năng chữa lành vết thương kém hơn. -Tăng nguy cơ mắc bệnh nhiễm trùng đường hô hấp: Các nghiên cứu cho thấy trẻ em và người lớn bị thiếu vitamin A có khả năng bị viêm phổi và các bệnh nhiễm trùng khác. Bổ sung vitamin A qua thực phẩm là nguồn an toàn nhất để ngăn ngừa các vấn đề sức khỏe nêu trên. Các thực phẩm giàu vitamin A như: cà rốt, khoai lang, rau bina, các sản phẩm từ sữa… 3.THIẾU VITAMIN D VÀ CÁC VẤN ĐỀ VỀ XƯƠNG, TIM Vitamin D còn được gọi là vitamin ánh nắng vì được da tổng hợp khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, rất cần thiết cho quá trình hấp thụ canxi, sức khỏe xương và chức năng miễn dịch. Thiếu vitamin này có thể dẫn tới các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng như: -Xương yếu và gãy xương: Nếu không có đủ vitamin D, xương sẽ trở nên giòn, làm tăng nguy cơ loãng xương và gãy xương. -Đau nhức, yếu cơ: Nhiều người thiếu vitamin D bị đau nhức cơ và mệt mỏi không rõ nguyên nhân. -Tăng nguy cơ mắc bệnh tim: Nghiên cứu cho thấy nồng độ vitamin D thấp có thể dẫn đến huyết áp cao và các vấn đề về tim. -Dễ bị nhiễm trùng hơn: Vitamin D đóng vai trò quan trọng chống lại virus, vi khuẩn… khiến tình trạng thiếu hụt trở nên nghiêm trọng, đặc biệt là vào mùa cúm. Nguồn vitamin D tốt nhất là ánh sáng mặt trời. Các nguồn khác như cá béo (cá hồi, cá ngừ…) và các sản phẩm sữa tăng cường vitamin D và chất bổ sung có thể giúp duy trì mức vitamin D đầy đủ cho cơ thể. 4.THIẾU VITAMIN K VÀ MỐI NGUY CƠ TIỀM ẨN VỚI MÁU, XƯƠNG Vitamin K rất cần thiết cho quá trình đông máu và sức khỏe của xương. Tuy nhiên tình trạng thiếu hụt vitamin K lại thường không được chú ý cho đến khi xuất hiện các biến chứng nghiêm trọng. -Chảy máu và bầm tím không kiểm soát được: Thiếu vitamin K có thể dẫn đến chảy máu quá mức từ các vết xước cắt nhỏ và thường xuyên xuất hiện vết bầm tím trên da. -Xương yếu hơn và nguy cơ gãy xương: Các nghiên cứu chỉ ra rằng nguy cơ thiếu hụt vitamin K có thể dẫn đến loãng xương và xương yếu hơn ở người lớn tuổi. -Biến chứng tim: Vitamin K giúp ngăn ngừa sự tích tụ canxi trong động mạch, làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim. Thiếu vitamin K có thể làm tăng các biến cố tim mạch. -Làm chậm quá trình lành vết thương: Nếu không có quá trình đông máu thích hợp, vết thương sẽ lâu lành hơn, làm tăng nguy cơ nhiễm trùng. Các loại rau lá xanh như rau bina, bông cải xanh là nguồn cung cấp vitamin K dồi dào và an toàn cho cơ thể, nên được đưa vào chế độ ăn uống thường xuyên.
Th 03
Một chế độ dinh dưỡng tốt không chỉ cung cấp nguồn sữa mẹ chất lượng cho trẻ sơ sinh mà còn giúp các bà mẹ cân bằng nội tiết tố, tinh thần thoải mái, khỏe mạnh. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng dinh dưỡng của bà mẹ có ảnh hưởng nhất định đến một số vi chất cũng như lượng sữa tiết ra của mẹ. SỮA CHUA SỐNG TỰ NHIÊN Sữa chua cung cấp hàm lượng cao canxi, magie, protein và vitamin B cao. Ngoài ra, sữa chua sống còn có hệ thực vật có lợi, có thể giúp mẹ và bé duy trì hệ đường ruột khỏe mạnh. Sữa và các chế phẩm từ sữa thực sự là thực phẩm không thể thiếu đối với các bà mẹ cho con bú. CÁ HỒI HOẶC CÁC LOẠI CÁ BÉO KHÁC Cá béo chứa protein và DHA (một phần của axit béo omega 3), cần thiết cho sự phát triển lành mạnh của hệ thần kinh của bé. Cá có dầu cũng chứa nhiều vitamin D, rất cần thiết cho xương, học tập, trí nhớ, và tâm trạng khỏe mạnh. Các mẹ nuôi con bằng sữa mẹ nên ăn 2 phần cá dầu mỗi tuần. CÁC LOẠI ĐẬU Với hàm lượng folate, sắt và chất xơ cao, các loại đậu là một lựa chọn thực phẩm đa năng cho các bà mẹ cho con bú. Các loại đậu tốt cho sữa mẹ nên bổ sung vào thực đơn bao gồm: đậu đen, xanh hay đậu đỏ, đậu gà. RAU HỌ CẢI SẪM MÀU Các loại rau lá xanh, bao gồm rau bina và rau cải xanh, không chỉ đậm đặc chất dinh dưỡng, mà chúng còn chứa đầy sắt và folate, giúp cơ thể xây dựng các tế bào hồng cầu khỏe mạnh. Chúng cũng chứa canxi, magie, và một nguồn vitamin C tuyệt vời - tất cả đều tuyệt vời cho các bà mẹ cho con bú. TRỨNG Trứng không chỉ là một món ăn nhanh và dễ dàng mà còn chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng, bao gồm choline, vitamin B12, A, D, K, selen, iot và protein. Đây là một trong những thực phẩm giúp bà mẹ cho con bú cung cấp nguồn dinh dưỡng dồi dào. QUẢ BƠ Bơ được biết đến là nguồn cung cấp các chất béo thiết yếu, lành mạnh, không chỉ giúp bạn tăng năng lượng cần thiết trong suốt cả ngày mà còn giúp cân bằng mức cholesterol. Bên cạnh đó, chúng rất giàu protein, vitamin E, folate, giúp phát triển lành mạnh hệ thần kinh trung ương cho mẹ và bé. Bà mẹ sau sinh cần 4-5mg vitamin E và 260mcg Folate mỗi ngày khi cho con bú. GẠO LỨT Gạo lứt là một loại carbohydrate phức tạp, nó không chỉ giúp bạn no lâu hơn mà còn giúp điều chỉnh lượng đường trong máu. Thêm vào đó, nó là một nguồn tuyệt vời của kẽm, magie, protein, và chất xơ. Gạo trắng không mang lại lợi ích sức khỏe tương tự, vì vậy gạo lứt là một lựa chọn tuyệt vời cho bà mẹ cho con bú. Hơn nữa, gạo lứt còn được biết đến với công dụng lợi sữa, giúp sữa mẹ đặc, mát và thơm hơn. HẠT CHIA Hạt chia là nguồn cung cấp chất béo thiết yếu, protein, canxi và sắt - tất cả đều cần thiết cho bà mẹ cho con bú. Bà mẹ cho con bú có thể kết hợp hạt chia chế độ ăn uống cùng với ngũ cốc, trái cây và sữa chua, hoặc thậm chí là trong sinh tố. HẠNH NHÂN Hạnh nhân có các chất dinh dưỡng protein và là một nguồn canxi tuyệt vời. Bà mẹ sau sinh cần 1250mg canxi mỗi ngày khi cho con bú. QUẢ ÓC CHÓ Quả óc chó có chứa protein thực vật, chất béo lành mạnh và chất xơ. Đây là một lựa chọn ăn nhẹ tốt cho các bà mẹ sau sinh. Quả óc chó được chứng minh có nhiều vitamin B6. Ở trẻ sơ sinh, thiếu vitamin B6 có thể dẫn đến các bất thường về thần kinh và hành vi, bao gồm cáu kỉnh, tăng phản ứng giật mình và thậm chí co giật. NƯỚC CAM Lượng thiamin của cơ thể mẹ có thể làm tăng nồng độ thiamin trong sữa mẹ. Duy trì tình trạng thiamin dương tính rất quan trọng trong thời kỳ cho con bú vì thiếu thiamin là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ sơ sinh. Nước cam có thể cung cấp một nguồn thiamin tự nhiên. Thêm vào đó, nước cam là một nguồn cung cấp nước tốt - một yếu tố rất quan trọng trong quá trình cho con bú. Nước cam còn có chứa nhiều vitamin C - là đồ uống bà mẹ cho con bú nên bổ sung hằng ngày.
Th 03
Tình trạng này còn được gọi là kém hấp thu đường từ sữa và thường ít nguy hiểm đối với người bệnh, nhưng các triệu chứng mà bệnh gây ra có thể khiến người bệnh cảm thấy bất tiện trong cuộc sống hằng ngày. 1.NGUYÊN NHÂN GÂY KHÔNG DUNG NẠP LACTOSE Không dung nạp Lactose được định nghĩa là tình trạng khi người bệnh ăn/ uống các sản phẩm từ sữa và không thể tiêu hóa hoàn toàn (đường lactose) trong sữa khiến người bệnh bị đầy hơi, tiêu chảy sau đó. Tình trạng này còn được gọi là kém hấp thu đường từ sữa và thường ít nguy hiểm đối với người bệnh nhưng các triệu chứng mà bệnh gây ra có thể khiến người bệnh bất tiện trong cuộc sống hằng ngày. Nguyên nhân gây ra tình trạng này là do sự thiếu hụt enzyme lactase - một loại enzyme được sản xuất trong ruột non của người dẫn đến không dung nạp lactose. Thông thường lactase biến lactose thành 2 loại đường đơn giản gồm glucose và galactose, hai loại đường này sẽ được hấp thụ vào máu thông qua niêm mạc ruột. Tùy theo cách phân loại, tuy nhiên có 3 loại không dung nạp lactose hay gặp. Các yếu tố khác nhau gây ra sự thiếu hụt enzyme lactase dẫn đến các tình trạng khác nhau của bệnh: Không dung nạp lactose nguyên phát: Đây là loại không dung nạp lactose phổ biến nhất. Những người mắc chứng không dung nạp lactose nguyên phát từ khi sinh ra, khi trẻ thay thế sữa bằng những thực phẩm khác, việc sản xuất lactase thường giảm, nhưng vẫn đủ cao để tiêu hóa lượng sữa trong chế độ ăn điển hình của người lớn. Trong tình trạng không dung nạp lactose nguyên phát, sản xuất lactase giảm mạnh, khiến các sản phẩm sữa khó tiêu hóa khi trưởng thành. Không dung nạp lactose nguyên phát được xác định phần lớn là do di truyền. Không dung nạp lactose thứ phát: Xảy ra khi ruột non giảm sản xuất lactase sau khi bị bệnh, chấn thương hoặc phẫu thuật liên quan đến ruột non. Trong số các bệnh liên quan đến không dung nạp lactose thứ phát là bệnh celiac, loạn khuẩn và bệnh Crohn. Điều trị bệnh này cơ bản có thể khôi phục mức độ lactase và cải thiện các dấu hiệu và triệu chứng, mặc dù có thể mất thời gian. Không dung nạp lactose bẩm sinh hoặc phát triển: Bệnh này có thể xảy ra nhưng rất hiếm, chỉ xảy ra đối với những đứa trẻ được sinh ra không có enzyme lactase (thường thấy ở trẻ sinh non từ 28 đến 37 tuần thai). Rối loạn này được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác theo cơ chế gen lặn, có nghĩa là cả hai bố mẹ đều phải có gen bệnh và cả hai đều di truyền cho bé, dẫn đến bé sinh ra mắc khiếm khuyết này. Trẻ sinh non cũng có thể không dung nạp lactose vì nồng độ lactose không đủ. 2.TRIỆU CHỨNG KHÔNG DUNG NẠP LACTOSE Nếu thiếu lactase, lactose sẽ di chuyển xuống đại tràng thay vì được chuyển hóa và hấp thu ở ruột non. Trong đại tràng, vi khuẩn tại đây sẽ tương tác với lactose không tiêu hóa, gây ra các dấu hiệu và triệu chứng không dung nạp lactose. Biểu hiện của không dung nạp lactose thường bắt đầu từ 30 phút đến 2 giờ sau khi ăn hoặc uống thực phẩm có chứa lactose. Các dấu hiệu và triệu chứng phổ biến bao gồm: Tiêu chảy Buồn nôn và đôi khi nôn Đau bụng quặn lại Đầy bụng Có nhiều hơi trong bụng 3.KHÔNG DUNG NẠP LACTOSE CÓ LÂY KHÔNG? Đây không phải là bệnh lý truyền nhiễm, và không thể truyền từ người này sang người khác. 4.PHÒNG NGỪA KHÔNG DUNG NẠP LACTOSE Hiện nay vẫn chưa có phương pháp đặc hiệu để phòng ngừa bệnh không dung nạp lactose. 5.CÁCH ĐIỀU TRỊ KHÔNG DUNG NẠP LACTOSE Hầu hết những người không dung nạp Lactose có thể kiểm soát tình trạng bệnh mà không phải từ bỏ tất cả các thực phẩm từ sữa. Đây là bệnh lý có thể điều trị dễ dàng và hạn chế lượng thức ăn/ đồ uống có chứa lactose, bổ sung enzyme lactase để tiêu hóa lactose bằng cách: Tránh ăn sữa và các thực phẩm từ sữa Chỉ ăn một phần nhỏ của các sản phẩm sữa trong các bữa ăn hằng ngày Sử dụng các sản phẩm kem và sữa có chứa ít lactose